Home

 
 

TỤC NGỮ - CA DAO - TRUYỆN CỔ TÍCH


                                                                           Phương-Lan


VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU

pic_07.jpg


Người là sinh vật biết nhận thức, có ư nghĩ, t́nh cảm, và khả năng diễn đạt những ư nghĩ, t́nh cảm ấy. Trong lịch sử văn học của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn có chữ viết với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đă có:

 

  • Những câu nói ngắn, gọn có ư nghĩa;
  • Những câu hát theo giọng điệu tự nhiên để biểu lộ, gửi gấm t́nh cảm;
  • Những mẩu chuyện để cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên hay các tập tục, tín ngưỡng.

Văn học dân gian truyền khẩu (với những tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích... ) xuất hiện trong rất nhiều xă hội trước khi con người t́m ra chữ viết. Trong văn học sử Trung hoa, khởi đầu cho thơ ca chính là những câu hát dân gian mà về sau Khổng Tử đă sưu tập lại trong Kinh Thi. Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích (proverbs, folk songs, folk poetry, folk tales, hay nói chung, folk literature) là tài liệu văn học quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giới, không riêng ǵ dân tộc Việt Nam.

Đối với dân tộc ta, ḍng văn học dân gian có một địa vị đáng kể hơn thế nữa. Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính thức được công nhận là chữ Hán, thứ chữ không diễn đạt được tiếng nói của dân Việt. Sau khi lấy lại được chủ quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ nôm, nhưng chữ này khó học, khó nhớ v́ lại do chữ Hán ghép thành (muốn biết chữ nôm phải thông thạo chữ Hán trước). V́ thế trong xă hội ta xưa, số người biết đọc, biết viết để có thể diễn đạt ư tưởng, t́nh cảm bằng chữ (bất kể chữ nôm hay chữ Hán) rất ít. Đại đa số dân chúng đă sáng tác và lưu giữ các tác phẩm dưới dạng truyền khẩu. Chính v́ thế, ḍng văn học dân gian truyền khẩu rất phong phú và quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam.

Văn học truyền khẩu không hoàn toàn là sáng tác của người b́nh dân ít học. Trước khi thành đạt, đa số nho sĩ sinh sống, học hành ở thôn quê. Nhiều ẩn sĩ, hàn nho ở với nông thôn suốt đời. Trong những dịp hội hè, trong các cuộc gặp gỡ, hát xướng, nhiều câu nói, câu hát của các vị đă được người b́nh dân ít học ghi nhớ rồi từ đó, gia nhập ḍng văn học dân gian. Theo nhiều tài liệu, Trạng nguyên Lương Thế Vinh (ông Trạng Lường), thi hào Nguyễn Du (cậu Chiêu Bảy), nhà cách mạng Phan Bội Châu (ông Giải San), nhà thơ Nguyễn Bính... đều đă từng tham dự các sinh hoạt ca hát ở thôn quê và có tác phẩm để lại, làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian. Ta có thể tin nhiều nho sĩ, trí thức khác cũng đă có những hành động tương tự.

 

1.- TỤC-NGỮ:

a.- Định nghĩa và biệt loại:

 

Tục ngữ: (tục: thói quen có đă lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói ngắn, gọn, giàu ư nghĩa, được dùng trong lời nói hàng ngày và lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Tục ngữ c̣n được gọi là ngạn ngữ (lời người xưa truyền lại).

Có ư nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:

 

  • Phương ngôn: Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương chứ không phổ biến khắp nước.
  • Cách ngôn, Châm ngôn: Những câu tục ngữ có ư khuyên dạy luân lư ("cách" là phương thức, "châm" là lời răn bảo).
  • Thành ngữ: Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ư nghĩa đầy đủ. Thành ngữ chỉ là những cách nói đă định sẵn (set expressions) để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ư phán đoán hay khuyên răn nào. Chẳng hạn:

    - Đàn gảy tai trâu.
    - Đáy bể ṃ kim.
    - Nói hươu nói vượn.
    - Gần đất xa trời.
    - Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.
    - Ngậm bồ ḥn làm ngọt.
    - Cảnh trứng chọi với đá.
    - Chốn miệng hùm nọc rắn.
    - Xứ tiền rừng bạc biển...


    Trong các thành ngữ, có những câu diễn ư so sánh hai sự vật để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu ví. Chẳng hạn:

    - Lạnh như tiền.
    - Thẳng như ruột ngựa.
    - Chắc như đinh đóng cột.
    - Dốt đặc cán mai.
    - Lúng túng như thợ vụng mất kim...


    b.- Nguồn gốc của tục ngữ:

Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Ban đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ư nghĩa xác đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú, nhắc đi nhắc lại. Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ biến rộng hơn.

Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ư đúng, lời hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách riêng để truyền tụng. Những câu như "Thương người như thể thương thân" trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trăi), "Khi nên trời cũng chiều người", hay "Chữ tài liền với chữ tai một vần" trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... có thể xếp vào loại này.

Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:

- Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện - Trung hoa
- Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm - Trung hoa)
- Lửa cháy đổ dầu thêm (Hỏa thượng thiêm du - Trung hoa)
- Thời giờ là tiền bạc (Time is money - Anh)
- Muốn là được (Vouloir, c'est pouvoir - Pháp)


c.- H́nh thức của tục ngữ:

 

Trong tục ngữ có những câu:
(1)Không vần, chỉ có ư đối:


- Giơ cao, đánh sẽ.
- Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài.
- No nên bụt, đói ra ma.

(2)Không vần, không đối, chỉ cốt ư đúng, lời gọn:

- Mật ngọt chết ruồi.
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần lưng (yêu vận):

- Ăn cây nào rào cây ấy.
- Phép vua thua lệ làng.
- Con có cha như nhà có nóc.
- Một giọt máu đào hơn ao nước lă.
- Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy.

Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):

- Khôn cho người bái,
Dại cho người thương.

- Dở dở ương ương,
Tổ cho người ghét.

 

                                                           o0o

2.- CA DAO:

a.- Định nghĩa và biệt loại:

 

Ca dao: (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ư nghĩ, t́nh cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng b́nh dân. Ca dao c̣n được gọi là phong dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.

Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ư nghĩa rơ rệt. Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số danh từ về các vật thường gặp. Chẳng hạn:

Dung dăng dung dẻ,
Dắt trẻ đi chơi.
Đến cửa nhà trời,
Lạy cậu lạy mợ.
Cho cháu về quê,
Cho dê đi học.
Cho cóc ở nhà,
Cho gà bới bếp...

hay:

Cái bống đi chợ cầu Canh,
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau.
Con cua lật đật theo hầu,
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.

Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài vè, và các câu đố.

Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xao. Vè thường nhằm mục đích chỉ trích, chế giễu.

Không có ranh giới rơ rệt giữa ca dao và dân ca. Có thể coi ca dao là phần lời thơ của các bài dân ca.

Ca dao khác tục ngữ ở chỗ - theo định nghĩa - ca dao có thể hát lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần điệu rơ rệt và âm hưởng êm ái hơn. Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bài.

Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm vi lư trí trong khi ca dao là tiếng nói của t́nh cảm. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũng thuộc phạm vi lư trí.

 

b.- Cách kết cấu của ca dao:

 

Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân biệt ba lối kết cấu (lập ư, dàn ư) của ca dao là: phú, tỉ, và hứng.

  • Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc. Chẳng hạn:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh.
    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
    Ai vô xứ Nghệ th́ vô!


    hay:

    Ngang lưng th́ thắt bao vàng,
    Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
    Một tay th́ cắp hỏa mai,
    Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền.
    Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
    Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...
  • Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều ḿnh muốn nói. Chẳng hạn:

    Bầu ơi thương lấy bí cùng,
    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.


    hay:

    Nực cười châu chấu đá xe,
    Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng.
  • Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ư tưởng, t́nh cảm chính bộc lộ ra. Chẳng hạn:

    Quả cau nho nhỏ,
    Cái vỏ vân vân.
    Nay anh học gần,
    Mai anh học xa.
    Tiền gạo là của mẹ cha,
    Cái nghiên, cái bút thực là của em.


    hay:

    Trên trời có đám mây xanh,
    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.
    Ước ǵ anh lấy được nàng,
    Th́ anh mua gạch Bát Tràng về xây.
    Xây dọc rồi lại xây ngang,
    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:

  • Vừa phú vừa tỉ:

    Trong đầm ǵ đẹp bằng sen,
    Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng.
    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.


    Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân tử (tỉ).
  • Vừa phú vừa hứng:

    Rủ nhau xuống bể ṃ cua,
    Đem về nấu quả mơ chua trên rừng.
    Ai ơi chua ngọt đă từng,
    Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!


    Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ư chính trong câu cuối cùng (hứng).
  • Vừa tỉ vừa hứng:

    Dao vàng bỏ đăy kim nhung,
    Biết người quân tử có dùng ta chăng?


    Ư chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến ḿnh (hứng).

    Riêng câu trên ví ḿnh với con dao vàng (tỉ).
  • Kiêm cả ba lối:

    Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
    Em đă có chồng, anh tiếc lắm thay!
    Ba đồng một mớ trầu cay,
    Sao anh không hỏi những ngày c̣n không?
    Bây giờ em đă có chồng,
    Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
    Chim vào lồng biết thuở nào ra!


    Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu cuối là "tỉ"

    hay:

    Sơn b́nh, Kẻ Gốm không xa,
    Cách một cái quán với ba quăng đồng.
    Bên dưới có sông,
    Bên trên có chợ.
    Ta lấy ḿnh làm vợ nên chăng?
    Tre già để gốc cho măng.


    Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng câu cuối là "tỉ".

    c.- H́nh thức của ca dao:

- Số câu trong bài: Số câu trong một bài ca dao không nhất định. Ca dao có ít nhất hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 câu. Tuy nhiên, trong những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng nối tiếp và bắt vần của những người tham dự cuộc hát.

- Số chữ trong câu: Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định. Đại để ca dao thường làm theo các thể sau đây:

  • Nói lối: (mỗi câu 4 chữ):

    Lạy trời mưa xuống,
    Lấy nước tôi uống.
    Lấy ruộng tôi cày,
    Lấy đầy bát cơm.
    Lấy rơm đun bếp.
  • Lục bát chính thức:

    Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
    Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
    Trúc xinh trúc mọc đầu đ́nh,
    Em xinh em đứng một ḿnh cũng xinh.
  • Lục bát biến thể:

    Công anh đắp đất trồng chanh,
    Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam.
    Xin đừng ra dạ bắc nam,
    Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.
    Huống tam thu nhi bất kiến hề,
    Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
    Chắc về đâu đă hẳn hơn đâu,
    Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia.


    (Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)
  • Song thất lục bát chính thức:

    Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc,
    Con chàng c̣n trứng nước thơ ngây.
    Có hay chàng ở đâu đây,
    Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.
  • Song thất lục bát biến thể:

    Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
    Em đă có chồng, anh tiếc lắm thay!


    (Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)
  • Phối hợp nhiều thể khác nhau:

    Các bài "Quả cau nho nhỏ..." và "Sơn b́nh, Kẻ Gốm không xa..." nhắc đến ở trên. Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:

    Từ khi gặp mặt giữa đàng,
    Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay.
    Có hay th́ nhất đánh nh́ đày,
    Hai lẽ mà thôi.
    Thủy chung em giữ trọn mấy lời.
    Chết em chịu chết, ĺa đôi em không ĺa.

 

                                o0o

 

3.- TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM:

 

Hầu hết các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam đều có những thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc loài người. Chẳng hạn truyện "Đẻ đất, đẻ nước" của người Mường, các truyện về cơn đại hồng thủy và quả bầu khổng lồ, nơi phát xuất những con người đầu tiên trên đất Việt cổ và các vùng lân cận, trong hầu hết các sưu tập cổ tích của người Thái, Lolo, Hmong, Bana, Raglai, Sedang, Vân kiều...

Những chuyện Lạc Long quân trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh; Thánh Tản viên (Sơn tinh) ngăn nước lụt... của người Việt có thể xếp vào loại thần thoại về sự chinh phục thiên nhiên và kỳ tích của anh hùng.

Những truyện "Cóc kiện trời", "Tại sao hổ có vằn", "Sự tích loài khỉ", "Sự tích con tu hú", "Sự tích con dă tràng"... trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có thể xếp vào loại cổ tích về loài vật.

Những truyện về Thánh Gióng, Chử Đồng tử, Bánh dầy bánh chưng, Quả dưa đỏ, Sơn tinh Thủy tinh, Thần Kim quy và nỏ thần, Tô thị vọng phu, Thiếu phụ Nam xương... có thể xếp vào loại cổ tích lịch sử.

Những truyện Trầu cau, Tấm Cám, Ba vị đầu rau, Túi ba gang (hai anh em và cây khế), Cây tre trăm đốt, Lưu B́nh Dương Lễ, Cái cân thủy ngân, Giết chó dạy chồng... có thể xếp vào loại truyện luân lư.

Những chuyện về sự dối trá của thằng Cuội, Trạng Quỳnh lỡm chúa Trịnh, Trạng Lợn gặp may, cũng như những giai thoại về Ba Giai, Tú Xuất... có thể xếp vào loại truyện hài hước.

Thêm vào đó, dân ta c̣n có những truyện thần kỳ, thoát tục như Tú Uyên gặp tiên, Từ Thức lên tiên... (truyện Chử Đồng tử đă nhắc đến ở trên cũng có thể xếp vào loại này), và những truyện thần quái như Người lấy cóc, Sọ Dừa, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ma xó... Chúng ta cũng có một số truyện ái t́nh thuần túy như Trưong Chi - Mỵ nương.

Một số truyện cổ tích của dân tộc Việt (như các truyện Trăm trứng trăm trai, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa...) cũng là truyện cổ tích của nhiều sắc dân thiểu số trên đất nước Việt Nam. Một số truyện Việt Nam cũng có thể t́m thấy trong kho tàng cổ tích của một vài dân tộc khác ở Đông Nam Á.

Một đặc điểm đáng lưu ư của các truyện cổ tích là không có văn bản nhất định. Mỗi người kể lại đều có thể thêm bớt, thay đổi đôi chút cho hợp với khung cảnh và tŕnh độ, thành phần thính giả.

                                           

                                    Trích từ

                              Đại cương về ḍng Văn học Dân gian

                              http://www.vuontre.com/forum/